Tư vấn khách hàng
Luật sư với bạn đọc - Quyền lợi của người mua tài sản đấu giá PDF. In Email
Thứ sáu, 16 Tháng 12 2011 09:20

Quyền lợi của người mua tài sản đấu giá

Khi đã hoàn tất thủ tục mua tài sản bán đấu giá theo quy định pháp luật, nhưng sau đó lại có người thứ ba tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bán đấu giá, thì xử lý như thế nào? Quyền và lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản đấu giá có được bảo đảm?

(Trần Văn Quang)

Thạc sĩ, luật sư Lê Việt Nga (Công ty Luật số 5 Quốc gia, ĐT: 04.37622620, web site: www.luatsuviet nam.vn) trả lời:

Điều 4, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 4/3/ 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản có quy định rõ việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản bán đấu giá. Theo đó, quyền, lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản bán đấu giá được pháp luật bảo vệ. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bảo đảm việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản bán đấu giá. Trong trường hợp có người thứ ba tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đã bán đấu giá thì việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự. Trong trường hợp có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sửa đổi một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ các quyết định liên quan đến tài sản bán đấu giá do có vi phạm pháp luật trước khi tài sản được đưa ra bán đấu giá nhưng trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản đó bảo đảm tuân theo đầy đủ quy định của pháp luật thì tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người mua được tài sản bán đấu giá. Tổ chức, cá nhân có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 5, Điều 2 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26-7-2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao cũng quy định: Trường hợp bản án, quyết định bị kháng nghị đã được tổ chức thi hành một phần thông qua bán đấu giá nay bị hủy, sửa thì cơ quan thi hành án tiếp tục hoàn thiện thủ tục theo quy định của pháp luật cho bên mua đấu giá, trừ trường hợp thủ tục bán đấu giá vi phạm quy định của pháp luật.

 

Nguồn: Báo Hà Nội Mới

 
Luật sư với bạn đọc - Thủ tục, hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính PDF. In Email
Thứ sáu, 16 Tháng 12 2011 09:12

Thủ tục, hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính

Em tôi khi sinh ra được ghi nhận là trai, đến nay tuy đã 15 tuổi nhưng nhìn hình thức và mọi cử chỉ, hành vi như dáng đi, đứng, giọng nói... đều rất giống con gái. Qua theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng, tôi được biết có quy định pháp luật về xác định lại giới tính. Vậy thủ tục, hồ sơ về vấn đề này như thế nào?

Nguyễn Văn Khoa (huyện Từ Liêm)

Luật gia Lương Thị Trâm (Công ty Luật số 5 Quốc gia, ĐT: 04.37622620, web site: www.luatsuvietnam.vn) trả lời:

Điều 7 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5-8-2008 về xác định lại giới tính, quy định thủ tục, hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính như sau:

- Thủ tục đề nghị xác định lại giới tính: a) Người đề nghị xác định lại giới tính gửi hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (CSKB, CB) được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính; b) Sau khi tiếp nhận hồ sơ, CSKB, CB phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho người đề nghị xác định lại giới tính trong thời gian 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn. Nếu không chấp nhận thì phải trả lời và nêu rõ lý do bằng văn bản.

- Hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính bao gồm: a) Đơn đề nghị xác định lại giới tính theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Trường hợp xác định lại giới tính cho người chưa đủ 16 tuổi thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó phải có đơn đề nghị; trường hợp xác định lại giới tính cho người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì trong đơn đề nghị phải có chữ ký của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó; b) Bản sao hợp lệ giấy khai sinh hoặc giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu hoặc hộ chiếu.
CSKB, CB được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính phải có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và nhân lực theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế, được Bộ Y tế thẩm định và cho phép bằng văn bản đối với các CSKB, CB trực thuộc Bộ Y tế; được Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thẩm định và cho phép bằng văn bản đối với các CSKB, CB trực thuộc Sở Y tế và các CSKB, CB của y tế ngành, y tế tư nhân thuộc địa bàn quản lý (quy định tại Điều 8 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP).
Theo quy định trên, bạn đọc Nguyễn Văn Khoa có thể liên hệ với Sở Y tế thành phố Hà Nội để được cung cấp danh mục CSKB, CB được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính. Qua đó có thể làm hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính cho em của mình.

 

Nguồn: Báo Hà Nội Mới

 
Luật sư với bạn đọc - Thủ tục yêu cầu thi hành án và cưỡng chế thi hành án PDF. In Email
Thứ sáu, 16 Tháng 12 2011 09:07

Thủ tục yêu cầu thi hành án và cưỡng chế thi hành án

Bản án xét xử ly hôn giữa tôi và chồng (cũ) đã đưa ra phán quyết chồng tôi được sở hữu toàn bộ căn nhà mà chúng tôi trước đó sinh sống, nhưng phải có nghĩa vụ thanh toán cho tôi một khoản tiền trị giá 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau gần 1 năm, chồng cũ của tôi vẫn chưa chấp hành bản án trên. Vậy xin hỏi thủ tục yêu cầu thi hành án như thế nào? Nếu chồng tôi không chấp hành thì có thể cưỡng chế thi hành án không?

(Nguyễn Thị Mơ)

Thạc sĩ, Luật sư Quản Văn Minh (Công ty Luật số 5 - Quốc gia, website: www.luatsuvietnam.vn) trả lời:

- Để thi hành án, trước hết bạn phải làm đơn yêu cầu thi hành án gửi Chi cục Thi hành án dân sự huyện nơi có tài sản để thi hành bản án này. Theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì đơn yêu cầu thi hành án phải có đầy đủ các nội dung gồm: Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu; tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu; họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án; nội dung yêu cầu thi hành án; thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan (nếu có). Người làm đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định như trên, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án. Người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan THADS áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định.

Về thủ tục gửi đơn yêu cầu thi hành án: Người yêu cầu thi hành án tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan THADS;

b) Gửi đơn qua bưu điện. Ngày gửi đơn yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu thi hành án nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan THADS hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

Sau khi nhận đơn yêu cầu thi hành án và xác định bản án này thuộc thẩm quyền của mình thì Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện ra quyết định thi hành án và gửi quyết định thi hành án cùng với thông báo về thi hành án đến các cơ quan và các đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan biết việc thi hành án.

Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Quá thời hạn trên người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

 

Nguồn: Báo Hà Nội Mới

 
Luật sư với bạn đọc - Quy định về tiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài PDF. In Email
Thứ sáu, 16 Tháng 12 2011 09:01

Quy định về tiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Xin hỏi pháp luật quy định về tiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài như thế nào? Tiền ký quỹ được sử dụng ra sao, trong những trường hợp nào thì người lao động được hoàn trả tiền ký quỹ?

(Nguyễn Văn Thịnh)

Thạc sỹ, luật sư Lê Việt Nga (Công ty Luật số 5 quốc gia, ĐT: 04.37622620, website: www.luatsuvietnam.vn) trả lời:

Theo quy định tại Điều 23 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006: Người lao động thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ về việc ký quỹ (nếu có) theo quy định để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Người lao động trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp dịch vụ nộp tiền ký quỹ vào tài khoản riêng được doanh nghiệp mở tại ngân hàng thương mại để giữ tiền ký quỹ của người lao động. Tiền ký quỹ của người lao động được hoàn trả cả gốc và lãi cho người lao động khi thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Việc sử dụng tiền ký quỹ: Trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp có quyền yêu cầu ngân hàng trích tài khoản tiền ký quỹ của người lao động để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này doanh nghiệp phải xuất trình văn bản hòa giải thành với người lao động hoặc phán quyết đã có hiệu lực thi hành của Tòa án. Số tiền ký quỹ còn thừa (nếu có) phải trả lại cho người lao động, nếu tiền ký quỹ không đủ thì người lao động phải nộp bổ sung.

Theo quy định tại Thông tư 17/2007/TTLT- BLĐTB& XH-NHNNVN thì số tiền ký quỹ của người lao động đã nộp sẽ được ngân hàng hoàn trả sau khi trừ đi số tiền đã thanh toán do người lao động vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (nếu có) và trong các trường hợp như sau: a) Doanh nghiệp và người lao động thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (người lao động hoàn thành hợp đồng hoặc về nước trước hạn). b) Doanh nghiệp đơn phương thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 27 của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. c) Doanh nghiệp bị giải thể hoặc bị phá sản; d) Người lao động không đi làm việc ở nước ngoài sau khi đã nộp tiền ký quỹ. e) Doanh nghiệp không đưa được người lao động đi làm việc ở nước ngoài sau khi người lao động đã nộp tiền ký quỹ.

Trong từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp dịch vụ sẽ cùng với người lao động tiến hành các thủ tục hoàn tiền ký quỹ hoặc ủy quyền cho người lao động trực tiếp rút tiền ký quỹ tại ngân hàng hoặc chuyển giao cho Cục Quản lý lao động ngoài nước giải quyết.


Nguồn: Báo Hà Nội Mới

 
Luật sư với bạn đọc - Quy định về thi hành phán quyết trọng tài PDF. In Email
Thứ sáu, 16 Tháng 12 2011 08:56

Quy định về thi hành phán quyết trọng tài

Trường hợp các bên giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài thương mại (hình thức trọng tài vụ việc) nhưng sau đó bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành, thì bên được thi hành theo phán quyết có thể làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

(Trần Văn Quốc)

Thạc sĩ, luật sư Lê Việt Nga (Công ty Luật số 5 Quốc gia, ĐT: 04.37622620, website: www.luatsuvietnam.vn ) trả lời:

Theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì "phán quyết trọng tài" là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài. Hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài. Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định. Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Thủ tục đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thực hiện theo Điều 62 Luật Trọng tài thương mại như sau: 1/ Theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp, phán quyết của Trọng tài vụ việc được đăng ký tại Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành phán quyết trọng tài đó. 2/ Trong thời hạn một năm kể từ ngày ban hành phán quyết trọng tài, bên yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc phải gửi đơn xin đăng ký phán quyết trọng tài tới Tòa án có thẩm quyền kèm theo bản chính hoặc bản sao có chứng thực các tài liệu sau đây: a) Phán quyết trọng tài. b) Biên bản phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài vụ việc, nếu có. c) Bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ. Bên yêu cầu phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của các tài liệu. 3/ Trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, Chánh án Tòa án phải phân công một thẩm phán xem xét đơn đăng ký phán quyết. Trong 10 ngày, kể từ ngày được phân công, thẩm phán phải kiểm tra tính xác thực của các tài liệu gửi kèm theo đơn và thực hiện việc đăng ký. Trường hợp xác định phán quyết trọng tài không có thật thì thẩm phán từ chối đăng ký, trả lại đơn yêu cầu cùng các tài liệu kèm theo và phải thông báo ngay, nêu rõ lý do cho bên có yêu cầu biết. Trong 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án về việc từ chối đăng ký phán quyết trọng tài. 4/ Nội dung đăng ký phán quyết trọng tài: a) Thời gian, địa điểm thực hiện việc đăng ký. b) Tên Tòa án tiến hành việc đăng ký. c) Tên, địa chỉ của bên yêu cầu. d) Phán quyết được đăng ký. đ) Chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu của Tòa án.

 

Nguồn: Báo Hà Nội mới

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 trong tổng số 7 trang

Đăng nhập



Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay442
mod_vvisit_counterHôm qua1285
mod_vvisit_counterTất cả1640837

Hôm nay: Tháng 5 20, 2012

Quảng cáo