Người để lại di sản Thừa kế có hai vợ PDF. In Email
Thứ ba, 27 Tháng 11 2007 18:07

     Ông nội tôi mất năm 2000 không để lại di chúc. ông và bà A lấy nhau năm 1957, sinh được 2 người con trai. Năm 1965. ông tham gia quân đội và tập kết ra Bắc và lấy bà B, sinh được 2 người con, 1 trai đã chết năm 1998 và chưa lập gia đình, 1 gái. Trong quá trình này, ông nội tôi chăm sóc cả hai bà và đã tạo lập được hai căn nhà, 1 căn nhà ở tỉnh Khánh Hoà do bà A quản lý, 1 căn nhà ở Hà Nội do bà B quản lý. Bà A hiện đã già và bị lẫn không nhận thức được nên người con trai cả đang chăm sóc bà và quản lý nhà.Xin cho biết chia thừa kế theo quy định của pháp luật và thủ tục giải quyết?

 

Trả lời

Theo nội dung mà chị cung cấp thì ông nội chị lấy bà A vào năm 1957 và lấy bà B vào năm 1965. Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, nhà nước ta chỉ thừa nhận hôn nhân một vợ một chồng. Nhưng vì giai đoạn này là giai đoạn chiến tranh (1954 – 1975), do vậy căn cứ vào Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Toà án Nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ lấy chồng khác thì cả bà A và bà B đều được công nhận là vợ của ông nội chị. Và trước khi chết, ông nội chị không để lại di chúc, do vậy phần tài sản của ông nội chị để lại hay còn gọi là di sản thừa kế sẽ được chia theo quy định của pháp luật.

Theo quy định của điều 676- BLDS, khoản 1, thì  Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Hàng thừa kế thứ hai gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết. Hàng thừa kế thứ ba gồm cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết”.

Căn cứ vào dữ liệu mà chị cung cấp thì hàng thừa kế thứ nhất của ông nội chị là bà A, bà B, 2 con của bà A, 2 con của bà B, bố mẹ của ông nội chị (nếu còn sống). Chị là cháu nội thì không thuộc hàng thừa kế thứ nhất, theo quy định tại khoản 3, điều 676, BLDS “ Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản”. Do vậy, chị không được hưởng di sản thừa kế của ông nội chị.

Theo điều 634- BLDS thì di sản bao gồm “Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác”. ở đây, chị chỉ nói chung là ông nội chị có 2 ngôi nhà, 1 ngôi nhà ở Khánh Hoà sinh sống với bà A, còn 1 ngôi nhà ở Hà Nội sinh sống với bà B. Do vậy khối tài sản chung của ông nội chị với bà A là ngôi nhà ở Khánh Hoà, còn ngôi nhà ở Hà Nội là khối tài sản chung của ông nội chị với bà B. Cho nên, di sản của ông nội chị để lại thừa kế là giá trị 1/2 ngôi nhà tại Khánh Hoà và giá trị 1/2 ngôi nhà tại Hà Nội. Khối tài sản này là di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật.

Theo điều 635 – BLDS thì “Người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”. Theo quy định này thì anh con trai của bà B đã chết trước khi ông nội chị chết và không có gia đình nên không được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 2, điều 676 – BLDS thì “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.

Như vậy, những người được hưởng phần di sản thừa kế của ông nội chị là bà A, bà B, 2 người con bà A và người con gái của bà B. Tổng cộng là 5 người. Phần di sản thừa kế của ông nội chị sẽ được chia làm 5 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng 1 phần.

Ngoài ra, theo dữ liệu chị cung cấp thì hiện nay, bà A bị lẫn không nhận thức được. Theo quy định của pháp luật dân sự thì người không nhận thức được hành vi của mình  khi tham gia vào các quan hệ pháp luật thì phải có người giám hộ. Theo quy định tại Mục 4 Chương II- BLDS thì con trai cả của bà A sẽ là người giám hộ cho bà A. Mặt khác, pháp luật vế thừa kế không quy định truất quyền hưởng thừa kế của những người không nhận thức được hành vi của mình . Do vậy, bà A vẫn được hưởng phần di sản thừa kế chia theo pháp luật mà con trai bà A sẽ làm giám hộ.

Để phân chia di sản thừa kế có hai trường hợp :

Trong trường hợp nếu những người được hưởng di sản thừa kế thoả thuận được với nhau về khôi di sản thừa kế và phần thừa kế của mỗi người thì làm đơn gửi đến UBND xã, phường nơi có phần lớn di sản, nếu không xác định được thì có thể gửi đến một trong hai nơi là Khánh Hoà hoặc Hà Nội.

Trong trường hợp không thoả thuận được thì một trong những người hoặc tất cả những người được hưởng di sản thừa kế khởi kiện ra toà án cấp quận, huyện nơi có phần lớn khối di sản hoặc có thể gửi đơn đến một trong hai nơi là Khánh Hoà hoặc Hà Nội.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề chị hỏi. Hy vọng qua phần tư vấn trên chị và gia đình có hướng giải quyết sao cho phù hợp với pháp luật và đảm bảo sự đoàn kết trong nội tộc.

Luật sư Nguyễn Văn Hà